Ba chỗ người Việt hay đọc sai số khi đặt hàng Trung Quốc là: 万 (wàn) bằng mười nghìn chứ không phải một triệu hay một nghìn; 斤 (jīn) bằng nửa ký; và lượng từ đứng sau số quyết định bạn đang mua một chiếc, một đôi, một bộ hay một tá. Đọc nhầm một chữ trong số đó là đơn hàng lệch gấp đôi, gấp mười hay gấp mười hai lần.
Bài này gom các đơn vị đếm hay gặp trên trang bán và trong tin nhắn, cách đọc số lớn theo kiểu Trung Quốc, đơn vị khối lượng và chiều dài, cách viết số tiền viết hoa trên phiếu, cách ghi ngày và thời hạn, và vài chỗ số dễ nhầm. Phần cuối là bảng kiểm khi viết đơn để tự rà lỗi.
Số lớn: Trung Quốc đếm theo vạn, Việt Nam đếm theo nghìn
Tiếng Việt nhóm số theo ba chữ số: nghìn, triệu, tỷ. Tiếng Trung nhóm theo bốn chữ số: 万 (wàn, vạn) là mười nghìn, 亿 (yì, ức) là một trăm triệu. Vì vậy, "1万" là 10.000, "5万" là 50.000, "1.2万" là 12.000, còn "100万" là một triệu. Khi đọc số lượng đã bán, số tồn kho, hay một số tiền lớn có chữ 万, hãy đổi ra số đầy đủ trước khi so sánh.
Người Việt học chữ Hán qua âm Hán Việt có lợi thế: "vạn" vốn là mười nghìn trong tiếng Việt cổ, nên chỉ cần nhớ đúng nghĩa đó. Chỗ dễ sai là khi lướt nhanh: "销量3万+" (đã bán hơn ba vạn) dễ bị đọc thành ba nghìn hoặc ba triệu. Ghi chú nhỏ trong sổ: 万 = 10.000.
Các chữ số nhỏ hơn đọc như sau: 十 (shí) mười, 百 (bǎi) trăm, 千 (qiān) nghìn. Trên trang bán, số gần như luôn viết bằng chữ số Ả Rập, chỉ chữ 万 và 亿 là hay đi kèm. Trong tin nhắn, cũng nên viết số bằng chữ số, chỉ ghép đơn vị bằng chữ Hán.
Lượng từ: bạn đang mua một cái, một đôi hay một bộ
Tiếng Trung đặt lượng từ giữa số và danh từ, giống "cái", "chiếc", "đôi" trong tiếng Việt. Trên trang bán sỉ, lượng từ đứng ngay sau giá hoặc số lượng tối thiểu, ví dụ ¥…/件 nghĩa là giá mỗi chiếc.
| Chữ Hán | Pinyin | Dùng cho |
|---|---|---|
| 件 | jiàn | một chiếc áo, một món hàng |
| 条 | tiáo | một chiếc quần, váy, khăn, dây (vật dài) |
| 双 | shuāng | một đôi giày, tất, đũa |
| 只 | zhī | một chiếc trong một đôi; một con |
| 个 | gè | một cái (lượng từ chung) |
| 套 | tào | một bộ nhiều món |
| 对 | duì | một cặp (bông tai…) |
| 包 | bāo | một gói |
| 盒 | hé | một hộp |
| 箱 | xiāng | một thùng |
| 打 | dá | một tá, mười hai cái |
| 卷 | juǎn | một cuộn |
| 手 | shǒu | một dây cỡ, một dây màu (trong bán sỉ) |
Bẫy hay gặp nhất là giá tính theo 双 hay 只. Tất bán theo 双 là một đôi; nếu trang ghi giá theo 只, bạn đang xem giá một chiếc. Bông tai bán theo 对 là một cặp; có nơi bán lẻ từng chiếc. Đọc kỹ chữ đứng sau dấu gạch chéo trong giá.
Chữ 打 (một tá) và 箱 (một thùng) hay xuất hiện ở hàng nhỏ như kẹp tóc, bút, tất. Một đơn ghi "5打" là sáu mươi chiếc, không phải năm. Chữ 手 trong bán sỉ quần áo, giày dép là một dây cỡ hoặc một dây màu; số chiếc trong một 手 tuỳ người bán, phải hỏi.
Khối lượng, chiều dài, dung tích
Đơn vị đo trên trang bán phần lớn là đơn vị mét, nhưng có vài đơn vị dân gian và đơn vị riêng của ngành vải cần nhớ.
| Chữ Hán | Pinyin | Nghĩa |
|---|---|---|
| 斤 | jīn | cân Trung Quốc, bằng 500 gam |
| 公斤 | gōngjīn | ki-lô-gam |
| 克 | kè | gam |
| 米 | mǐ | mét |
| 厘米 | límǐ | xăng-ti-mét |
| 毫米 | háomǐ | mi-li-mét |
| 码 | mǎ | yard, khoảng 0,914 mét (khi nói về vải cuộn); cũng là "cỡ" khi nói về quần áo, giày |
| 毫升 | háoshēng | mi-li-lít |
| 升 | shēng | lít |
| 克重 | kèzhòng | định lượng vải, giấy (gam trên mét vuông) |
Chữ 码 là ví dụ rõ nhất của một chữ hai nghĩa theo ngữ cảnh: trong bảng size, 码 là cỡ; trên trang bán vải cuộn, 码 là yard, ngắn hơn mét gần một phần mười. Đặt một trăm 码 vải mà tưởng là một trăm mét là thiếu hơn tám mét vải.
Khối lượng ghi bằng 斤 hay gặp ở hàng bán theo cân như phụ liệu, hạt cườm, và trong bảng size (cân nặng gợi ý). Khi so giá theo khối lượng giữa hai người bán, đổi về cùng đơn vị trước, vì một bên ghi 斤, một bên ghi 公斤 là chuyện thường gặp.
Số tiền viết hoa trên phiếu và chứng từ
Trên hoá đơn, phiếu thu, hợp đồng của Trung Quốc, số tiền thường ghi thêm bằng chữ số viết hoa để chống sửa. Bạn không cần viết, nhưng nên đọc được để đối chiếu.
| Viết hoa | Chữ thường | Pinyin | Nghĩa |
|---|---|---|---|
| 壹 | 一 | yī | 1 |
| 贰 | 二 | èr | 2 |
| 叁 | 三 | sān | 3 |
| 肆 | 四 | sì | 4 |
| 伍 | 五 | wǔ | 5 |
| 陆 | 六 | liù | 6 |
| 柒 | 七 | qī | 7 |
| 捌 | 八 | bā | 8 |
| 玖 | 九 | jiǔ | 9 |
| 拾 | 十 | shí | 10 |
| 佰 | 百 | bǎi | trăm |
| 仟 | 千 | qiān | nghìn |
Đơn vị tiền: 元 (yuán) là đồng nhân dân tệ, trong văn nói và tin nhắn hay dùng 块 (kuài); 角 (jiǎo) hay 毛 (máo) là một phần mười đồng; 分 (fēn) là một phần trăm đồng. Ký hiệu ¥ đứng trước số tiền. Trên chứng từ, dòng chữ viết hoa phải khớp với dòng số; nếu lệch, hỏi lại trước khi thanh toán.
Trong tin nhắn, người bán thường viết giá ngắn như "12.5" kèm 元 hoặc không kèm gì. Dấu chấm ở đây là dấu thập phân: mười hai đồng rưỡi. Người Việt quen dùng dấu chấm phân cách hàng nghìn rất dễ đọc nhầm thành mười hai nghìn năm trăm. Khi tự viết số tiền gửi người bán, dùng dấu chấm cho phần thập phân theo kiểu của họ, không dùng dấu phân cách hàng nghìn.
Ngày, giờ và thời hạn
Ngày tháng tiếng Trung viết theo thứ tự năm, tháng, ngày: 2026年10月25日 hoặc gọn hơn 10月25号. Chữ 号 (hào) trong văn nói và tin nhắn dùng như 日 (rì), đều là "ngày". Viết số theo dạng "10/25" là kiểu tháng trước ngày sau, ngược với thói quen Việt Nam; khi đọc "3/5" trong tin nhắn của người bán, đó thường là mùng 5 tháng 3 chứ không phải mùng 3 tháng 5. Để chắc, khi tự viết hãy dùng dạng có chữ 月 và 号.
Thời hạn hay gặp: 天 (tiān, ngày), 工作日 (gōngzuòrì, ngày làm việc), 小时 (xiǎoshí, giờ), 下单后7天内发货 (gửi hàng trong vòng bảy ngày sau khi đặt đơn). Chú ý 工作日 không tính cuối tuần và ngày lễ Trung Quốc; bảy ngày làm việc có thể là hơn chín ngày lịch. Dịp nghỉ dài như Tết Nguyên đán, Quốc khánh đầu tháng Mười, các mốc thời gian đều bị đẩy lùi.
Khoảng thời gian thường viết bằng dấu gạch nối: 3-5天 là ba đến năm ngày. Khi chốt đơn, ghi rõ ngày cụ thể thay vì khoảng, ví dụ 10月30号前发货 (gửi trước ngày 30 tháng 10), để có căn cứ khi hàng chậm.
Giờ giấc cũng cần quy đổi: Trung Quốc dùng một múi giờ chung cho cả nước, sớm hơn giờ Việt Nam một tiếng. Khi người bán nói 下午5点前下单当天发货 (đặt trước năm giờ chiều thì gửi trong ngày), đó là năm giờ chiều giờ Bắc Kinh, tức bốn giờ chiều giờ Việt Nam. Lỡ mốc đó một tiếng là hàng gửi chậm thêm một ngày.
Những chỗ số dễ nhầm và cách tự kiểm
Thứ nhất, chữ số viết tay trên phiếu: nhiều người Trung Quốc viết số 7 không có gạch ngang giữa thân như thói quen của nhiều người Việt, nên số 7 viết vội có thể trông gần số 1. Khi nhận ảnh phiếu viết tay, đối chiếu với tổng tiền và tổng số lượng thay vì đọc từng con số.
Thứ hai, khi gọi video hay nhắn bằng tay để xác nhận số lượng ở kho, người Trung Quốc có cách ra dấu số từ sáu đến mười khác người Việt: ngón cái và ngón út duỗi ra là sáu, ba đầu ngón chụm lại là bảy, ngón cái và ngón trỏ duỗi thành hình chữ L là tám, ngón trỏ cong như móc câu là chín, nắm tay hoặc hai ngón trỏ bắt chéo là mười. Dấu tám rất dễ bị người Việt hiểu thành hai. Khi xác nhận bằng hình ảnh, luôn yêu cầu nhắc lại bằng chữ số.
Thứ ba, 两 (liǎng) và 二 (èr) đều là hai; 两 dùng trước lượng từ, như 两件 (hai chiếc). Thấy chữ 两 trong tin nhắn thì đó vẫn là số hai, không phải đơn vị khác. Riêng 两 trong cân đo truyền thống còn là "lạng", nhưng ở bối cảnh đặt hàng hằng ngày rất ít gặp.
Cách tự kiểm cuối cùng là đối chiếu chéo: tổng số lượng bằng tổng các dòng màu và cỡ, tổng tiền bằng đơn giá nhân số lượng cộng phí gửi. Một phép nhân nhẩm trước khi thanh toán bắt được phần lớn lỗi đọc nhầm đơn vị.
Bảng kiểm khi viết đơn hàng có số và đơn vị
Trước khi gửi tin nhắn chốt đơn hoặc thanh toán, rà lần lượt các điểm sau. Mất hai phút nhưng tránh được những lỗi không đòi được ai.
- Mỗi con số đều có lượng từ hoặc đơn vị đi kèm: 件, 双, 套, 米, 码, 公斤… không để số trơn.
- Số lớn có chữ 万 đã được đổi ra số đầy đủ khi ghi vào sổ của bạn.
- Giá đang xem là giá theo đơn vị nào (chiếc, đôi, bộ, tá, cân), khớp với đơn vị bạn định mua.
- Với vải, đã hỏi rõ bán theo mét hay theo yard; với hàng cân, theo 斤 hay 公斤.
- Số tiền dùng dấu chấm cho phần thập phân, không dùng dấu phân cách hàng nghìn kiểu Việt Nam.
- Ngày gửi hàng ghi bằng chữ 月 và 号, không ghi dạng số gạch chéo dễ đảo tháng và ngày.
- Tổng số lượng bằng tổng các dòng màu, cỡ; tổng tiền bằng đơn giá nhân số lượng cộng phí gửi.
- Người bán đã xác nhận lại bằng chữ, và bạn đã chụp màn hình lưu vào sổ lô hàng.
Nếu dùng bên trung gian mua hộ, gửi họ đúng bảng đã rà này. Họ chuyển cho người bán theo đơn vị bạn ghi; sai đơn vị từ phía bạn thì họ cũng khó phát hiện.
Câu hỏi thường gặp
1万 bằng bao nhiêu?
万 là vạn, bằng mười nghìn. Vậy 1万 là 10.000, 3万 là 30.000, 1.5万 là 15.000, còn 100万 là một triệu. Tiếng Trung nhóm số theo bốn chữ số, khác cách nhóm ba chữ số của tiếng Việt, nên cần đổi ra số đầy đủ trước khi so sánh.
1斤 bằng bao nhiêu ký?
Một 斤 bằng 500 gam, tức nửa ký. Đơn vị này hay gặp ở hàng bán theo cân và trong bảng size, chỗ cân nặng gợi ý. 公斤 mới là ki-lô-gam. Khi so giá theo khối lượng, đổi về cùng một đơn vị trước.
Giá ghi ¥5/双 và ¥5/只 khác nhau thế nào?
双 là một đôi, 只 là một chiếc. Giá 5 đồng một đôi rẻ gấp đôi giá 5 đồng một chiếc nếu bạn cần mua theo đôi. Luôn đọc chữ đứng sau dấu gạch chéo trong giá.
Mua vải tính theo 码 là mét hay gì?
Khi bán vải cuộn, 码 là yard, khoảng 0,914 mét, ngắn hơn mét gần một phần mười. Đặt số yard mà tưởng là mét sẽ thiếu vải. Trong bảng size quần áo, giày, 码 lại có nghĩa là cỡ.
Vì sao chứng từ Trung Quốc ghi số tiền bằng chữ lạ như 壹, 贰?
Đó là chữ số viết hoa dùng trên hoá đơn, hợp đồng để chống sửa số. 壹 là một, 贰 là hai, 叁 là ba, 拾 là mười, 佰 là trăm, 仟 là nghìn. Đối chiếu dòng chữ viết hoa với dòng số trước khi thanh toán.
工作日 có tính thứ Bảy, Chủ nhật không?
Không. 工作日 là ngày làm việc, không tính cuối tuần và ngày lễ của Trung Quốc. Bảy ngày làm việc có thể kéo dài hơn chín ngày theo lịch, và dịp nghỉ dài như Tết Nguyên đán còn lâu hơn nữa.